Website đang trong quá trình xây dựng và thử nghiệm

Ngày Xuân, học Bác chăm lo đời sống nhân dân

Chủ nhật, 26/01/2020 | 06:39 GMT+7

Ngày Xuân, học Bác chăm lo đời sống nhân dân

TS.Đinh Quang Thành- Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Chăm lo đời sống nhân dân là một tư tưởng lớn trong hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam. Không chỉ là tư tưởng, Hồ Chí Minh còn là tấm gương suốt đời chăm lo đời sống nhân dân. Sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động trong việc chăm lo đời sống nhân dân là nét đặc sắc trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, có giá trị bền vững đối với hôm nay và mai sau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân xuất phát từ những bài học lớn được rút ra từ chiều sâu của lịch sử, như Trần Quốc Tuấn trước khi qua đời dặn lại vua Trần: “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”; Nguyễn Trãi đã kết luận: Lật thuyền mới biết dân như nước… Đồng thời, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin khi các nhà kinh điển khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp cách mạng.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, Hồ Chí Minh đã từng chứng kiến cuộc sống đau khổ, cùng cực của biết bao người dân, nhất là NLĐ. Dưới sự thống trị của chế độ thực dân tàn bạo, phản động, những NLĐ Việt Nam vừa bị phân biệt đối xử bởi thân phận người dân mất nước, vừa bị bóc lột tàn bạo bởi những phương thức còn mang nặng tàn tích thời trung cổ. Từ thực tế đó, đồng thời được hun đúc, kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành khát vọng đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, cứu nước, cứu dân thoát khỏi vòng tăm tối của chế độ thuộc địa. Đó chính là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy Người ra đi tìm một con đường cứu nước mới cho đất nước, dân tộc.

Sau khi đã giành được độc lập rồi thì vấn đề kiến quốc là hết sức quan trọng. Bởi vì, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”.

Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm “đầu tiên là công việc đối với con người”. Người dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Chăm lo cho đời sống của nhân dân vừa là mục tiêu cao đẹp nhất của sự nghiệp cách mạng, vừa là đạo lý ứng xử của những chiến sĩ cách mạng đối với những người đã tin tưởng, tham gia sự nghiệp cách mạng. Từ đây, phạm trù “chăm lo đời sống nhân dân” mới thật sự có ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân văn.

Để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần NLĐ, Hồ Chí Minh chú ý chỉ ra những biện pháp trên nhiều lĩnh vực. Đó là những biện pháp chủ yếu sau:

Một là, phát triển kinh tế, vừa tăng gia sản xuất, vừa thực hành tiết kiệm. Muốn nâng cao đời sống vật chất của NLĐ thì đương nhiên phải phát triển kinh tế, để tạo ra nhiều giá trị vật chất. Để phát triển kinh tế, Hồ Chí Minh rất chú trọng thực hiện tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Đối với nhiệm vụ tăng gia sản xuất, việc nâng cao đời sống NLĐ, Người nêu rõ: “Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất”.

Hai là, có sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Cùng với sự phát triển kinh tế trong nước, việc mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài để tranh thủ nguồn lực ngoại sinh cũng có vai trò hết sức quan trọng. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, nội lực và ngoại lực luôn gắn chặt với nhau, bổ sung cho nhau, trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng.

Ba là, phải thực hành dân chủ rộng rãi. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, qua đó động viên được cao nhất sự tham gia của nhân dân trong quá trình sản xuất, từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của họ là điều Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng. Người coi đó là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi vấn đề. Người từng nhắc nhở: “Nếu công nhân chưa thực sự tham gia quản lý và cán bộ chưa thật tham gia lao động thì phải phê bình để sửa chữa”.

Bốn là, xây dựng nền văn hóa mới là nền tảng tinh thần xã hội. Để nâng cao đời sống vật chất và nhất là đời sống tinh thần của người dân, không thể thiếu việc phát triển văn hóa. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, văn hóa có vai trò “soi đường cho quốc dân đi”, giúp người dân bồi dưỡng những giá trị tinh thần đúng đắn, đồng thời cũng tạo ra những giá trị tinh thần để phục vụ đời sống của người dân được sung túc, cuộc sống tốt đẹp. Hồ Chí Minh nói: “Văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng... Văn hoá phải gắn liền với lao động, sản xuất. Văn hoá xa đời sống, xa lao động là văn hoá suông”.

Suốt đời vì dân

Đối với Hồ Chí Minh, phẩm chất đạo đức quý báu, cao nhất, cốt lõi là chí công vô tư, tức là nêu cao chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Điểm xuất phát tiến đến chí công vô tư là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”, làm cán bộ, đảng viên là phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Ý thức chăm lo đời sống nhân dân thể hiện rất rõ trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh không chỉ ra vào chốn lao tù đế quốc, thực dân, xông pha hiểm nghèo, nương náu nơi núi rừng hiểm trở vì mục đích phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân mà Người còn lo toan đến tương, cà, mắm, muối cho dân. Hồ Chí Minh dạy cán bộ, đảng viên tu dưỡng đạo đức không chỉ ở những việc lớn, mà phải quan tâm đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân, từ cái ăn, cái mặc, đi lại, học hành, chữa bệnh. Phải biết tiết kiệm từng đồng tiền, hạt gạo của dân. Người cho rằng, khi đất nước còn khó khăn, nhân dân còn thiếu thốn thì Chủ tịch nước mặc áo vá là có phúc cho dân tộc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước trải qua nạn đói khủng khiếp, Hồ Chí Minh chủ trương vừa đẩy mạnh tăng gia sản xuất, đồng thời thực hành tiết kiệm, mỗi người 10 ngày nhịn ăn một bữa để góp gạo cứu đói và Người nêu gương thực hiện. Trăn trở về đời sống nhân dân, trong Di chúc, Người không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước “chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Hồ Chí Minh luôn luôn gương mẫu, thực hiện nói đi đôi với làm, “gần dân” thì phải tăng cường tiếp xúc với dân. Khi đi thăm dân, Người không muốn tiệc tùng tốn kém theo kiểu “khách ba, chủ nhà bảy” để mang tiếng với dân, Người cũng phê bình việc liên hoan chè chén, lu bù còn phổ biến ở nhiều địa phương, như bắt đầu cấy cũng liên hoan, cấy xong cũng liên hoan, rồi huyện về điều tra cũng liên hoan, tiễn cán bộ huyện đi cũng liên hoan, cải tiến cũng liên hoan, nghe nói họp bàn về tiết kiệm cũng liên hoan mấy con lợn… Người thường kể câu chuyện “có nơi Bác về thăm, cán bộ làm thịt cả một con bò và bảo rằng để “chiêu đãi Hồ Chủ tịch”; thế là họ “ăn” cả Hồ Chủ tịch. Phải tích cực sửa chữa”.

Mục tiêu cốt lõi để nhân dân không còn đói nghèo, được bảo đảm về an sinh xã hội: Việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở… là các chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ phải luôn luôn hướng tới sự ổn định và phát triển xã hội, đem lại hạnh phúc cho con người; phải được thực thi hiệu quả mới góp phần làm ổn định xã hội, phát huy nguồn lực tài dân, sức dân, khả năng sáng tạo của nhân dân để mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đặc biệt, các chủ trương và các chính sách đó phải trở thành một động lực to lớn để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo cơ sở vững chắc để ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Chừng nào cuộc sống của nhân dân còn đói nghèo, chưa được no ấm, hạnh phúc thì chừng đó, các cấp ủy Đảng, chính quyền nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng chưa hoàn thành tốt chức trách và nhiệm vụ của mình trước nhân dân.

Quan điểm Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng, cụ thể hóa trong Cương lĩnh Chính trị của Đảng năm 1991 và năm 2011 (bổ sung và phát triển) về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm, 5 năm và kế hoạch hằng năm; thể hiện trong từng cơ chế, chính sách phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, xã hội của đất nước, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực tế cho thấy, các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước trong gần 35 năm đổi mới đã luôn hướng tới mục tiêu không ngừng “nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân’” như văn kiện Đại hội XII của Đảng đã khẳng định. Theo đó, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được những kết quả tích cực; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng; chính sách dân tộc, tôn giáo được quan tâm và đảm bảo… Chính phủ Việt Nam đề ra Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2016-2020) với số vốn 41.449 tỉ đồng; đã giao cho Chương trình trong 2 năm 2016-2017 là 14.584 tỉ đồng. Ngoài ra, Nhà nước còn bố trí 44.214 tỉ đồng để thực hiện chính sách giảm nghèo thường xuyên, hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng… Đến nay, tỉ lệ nghèo trong đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm là kết quả rất đáng khích lệ. 70% người dân Việt Nam đã được đảm bảo về mặt kinh tế; trong đó có 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới… Đây chính là những con số “biết nói”, góp phần từng bước đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai.

Tuy nhiên, trước thềm năm mới 2020, đời sống của nhân dân ta vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, bất ổn do sự phát triển không đồng bộ giữa kinh tế và văn hóa. Nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội chậm được xử lý như tình trạng tham nhũng, quan liêu của một bộ phận CBCC, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng… Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu mới đối với cán bộ, đảng viên trong việc chăm lo đời sống nhân dân. Học tập tư tưởng, tấm gương Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân, chúng ta cần thực hiện ngay những giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Thực hiện tốt Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Cần coi đây là khâu then chốt, bởi theo Hồ Chí Minh, muôn việc thành công hay thất bại là do cán bộ. Chăm lo đời sống nhân dân không nằm ngoài quy luật đó.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt phải tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW ngày 1/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Trong đó, có yêu cầu cán bộ, đảng viên phải: “Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân”. Về đạo đức, lối sống, tác phong, phải: “Nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú”. Về quan hệ với nhân dân phải: “Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với nhân dân và cán bộ dưới quyền. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân”.

Ba là, gắn thực hiện nội dung chăm lo đời sống nhân dân với việc tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm, cấp bách tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng và các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.■

Tổng kết và trao giải Cuộc thi “Viết về BHXH, BHYT”

THE ROAD STORY VIETNAM

Trang thông tin điện tử Báo Bảo hiểm Xã hội: Giấy phép xuất bản số 47/GP-TTĐT cấp ngày 2/10/2014 bởi Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.
Tòa soạn: 150 Phố Vọng, Thanh Xuân, Hà Nội; Tel: (024)36281193 - 36281191 - 36281192- Fax: (04) 38697886.
VPÐD tại TP.HCM: 18D Cộng Hòa, Phường 4, Quận Tân Bình; Tel, Fax: (08) 35210295.
Tổng biên tập: Nguyễn Hải Hồng
Phó Tổng biên tập: Bùi Đình Cự; Nguyễn Thị Việt
Thư ký tòa soạn: Hoàng Công.
© Copyright 2014 http://baobaohiemxahoi.vn, All rights reserved.
® Báo BHXH giữ bản quyền nội dung trên website này, ghi rõ nguồn khi phát hành lại nội dung.